THAN MÙN CƯA BITCARE

6 December 2020

THAN MÙN CƯA

KHÁI LƯỢC VỀ THAN MÙN CƯA

Ngày nay việc sử dụng năng lượng đang trở thành vấn đề lớn của nhiều nước trong đó có Việt Nam. Trong vấn đề sử dụng năng lượng thì vấn đề  sử dụng năng lượng trong sinh hoạt là rất được chú ý. Vì chất  lượng cuộc sống ngày nay đang thay đổi rất nhanh và ngày càng cao nên đòi hỏi chất lượng đối với những năng lượng sử dụng cũng ngày càng cao. Ví dụ đơn giản nhất là sử dụng than để sưởi ấm về mùa đông ở miền núi giá rét, than được sử dụng trong ngành thực phẩm, đặc biệt là dùng cho đồ nướng. Bên cạnh đó, yêu cầu hiện nay là những than này phải sạch, tức là không có khói, không gây ô nhiễm môi trường khí, thời gian đốt phải dài, nhiệt lượng phải cao…Việc sử dụng than củi (còn gọi là than hoa) như trước đây sẽ không thích hợp nữa vì nó dẫn đến việc phá rừng, đốt rãy. Do đó, sử dụng than nhân tạo sẽ góp phần giảm thiểu được nạn phá rừng hiện nay.

Theo nhiều nguồn thống kê, hàng năm ở nước ta riêng ngành chế biến lâm sản đã thải ra hàng vạn mét khối gỗ phế liệu, cành ngọn dùng làm củi đốt và hàng chục vạn tấn mùn cưa cũng chỉ mang để đốt hoặc nhóm lò, đó là chưa kể tới nhiều triệu mét khối những cây bương, luồng chất lượng thấp không sử dụng để làm hàng xuất khẩu được. Những phế liệu này cần được tận dụng để biến thành những sản phẩm có ích cho con người.

Để biến những phế thải trên thành sản phẩm có ích cần phải có công nghệ cao và sản phẩm làm ra phải có thị trường tiêu thụ.

Sau một thời gian tìm hiểu, phân tích và đi đến kết luận than gỗ là sản phẩm có thị trường tiêu thụ rất rộng bao gồm: than gỗ tự nhiên hay than hoa; than gỗ nhân tạo hay than sinh học. Đặc biệt than sinh học là sản phẩm có nhu cầu rất cao, nhất là ở những nước phát triển.

Than sinh học còn có tên gọi khác là than sinh khối. Qua quá trình Cacbon hóa từ 13-15 ngày, áp suất 10-20 atm. Tên sản phẩm được gọi dựa theo sinh khối đầu vào sản xuất. Ví dụ: than mùn cưa -> đầu vào là mùn cưa, than gáo dừa -> đầu vào là gáo dừa.

Than mùn cưa: than được tạo thành bởi những vật liệu có chứa xen-lu-lo như mẩu gỗ, mùn cưa, cành tre trúc, vỏ trấu, vỏ lạc, cành cây, phế liệu nông phẩm, vỏ quả cà phê, … đem nghiền nhỏ (những nguyên liệu có kích thước nhỏ hơn 5 mm như vỏ trấu, mùn cưa thì không phải nghiền), sấy khô rồi dùng phương pháp nhiệt và cao áp để ép thành thanh có dạng hình ống rỗng hoặc hình lập phương đặc, sau đó đem than hoá thành than. Than sản xuất theo phương pháp này có hình dạng thống nhất theo quy cách do người sản xuất định ra. Than được sản xuất từ nguồn nguyên liệu có chứa xen-lu-lô dễ tìm kiếm, giá rẻ. Nhiệt lượng của than này có thể lên tới 7000 – 8500 kcalo/kg. Thời gian cháy của mỗi kg than này có thể kéo dài 200 phút, khi cháy không có khói và mùi. Hàm lượng Cacbon trong than có thể đạt từ 70 đến 93%. 

Một vài lĩnh vực có sử dụng loại sản phẩm này như:

    • Công nghiệp : Trong ngành công nghiệp, than này được dùng làm phụ gia hoàn nguyên trong ngành đúc đồng, dùng để lọc nước trong các nhà máy nước sạch, dùng trong nhà máy sản xuất than hoạt tính, nhà máy sản xuất hương muỗi, sản xuất thuốc nổ, thuốc pháo, trong nhà máy sản xuất Cac-bon Silic…
    • Nông nhiệp: Trong nông nghiệp than sinh học được dùng để cải tạo chất đất, giữ nước trong đất; Nó còn được dùng để tăng nhiệt độ trong đất, thúc đẩy sự nảy mầm của hạt, nâng cao hiệu suất nảy mầm.
    • Trong ngành nông dược và phân bón, nó là chất phụ gia giữ độ ẩm của đất khi bón phân, cải thiện độ pH của đất, hấp thụ những kim loại có hại và làm xốp tơi dất, tăng cường dưỡng khí cho cây trồng và thúc đẩy sự hoạt động của vi sinh vật trong đất.
    • Trong sinh hoạt của con người: Có thể tìm thấy sự ứng dụng của than sinh học trong nhiều lĩnh vực: dùng sưởi ấm, đun nước nóng, nghề nướng thực phẩm, lẩu, làm chất khử mùi cho tủ lạnh …  

CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT

Sản xuất than mùn cưa từ phế thải nông lâm sản không thuộc loại phức tạp. Chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào nguyên liệu đầu vào và kỹ thuật đốt than, công đoạn đốt than (quá trình than hóa).

Quy trình được khái quát như sau:

Nguyên liệu: Tất cả các chất có chứa xen-lu–lô đều có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất than sinh học như: Cành cây, gỗ phế liệu của các nhà máy chế biến gỗ, mùn cưa, phoi bào, rơm rạ, vỏ trấu, lõi ngô, vỏ hạt cà phê, gáo dừa…Những thứ này được đưa vào máy nghiền, với nguyên liệu có kích thước nhỏ hơn 5 mm như vỏ trấu, mùn cưa thì không phải qua công đoạn này. Nếu là gáo dừa thì phải xay nhỏ kích thước khá đồng đều khoảng 3×6 hoặc 4×8. Dưới đây là hình ảnh minh hoạ công nghệ sản xuất loại than này.

Nguyên liệu sau khi được nghiền nhỏ được đưa sang hệ thống sàng tuyển để loại bỏ các tạp chất như đá cục, mảnh thủy tinh…

Nguyên liệu đã sàng tuyển được sấy khô đến độ ẩm đạt yêu cầu công nghệ tạo khuôn than. Sau đó được đưa vào máy ép trụ để hình thành những thanh than dài 45 cm, đường kính 5,0 đến 5,5 cm, có hình vuông hoặc hình lục giác.

Những thanh than này được đưa vào lò than hoá thành than sinh học. Đây là công đoạn quan trọng nhất trong quá trình sản xuất than sạch không khói, mang tính chất quyết định 80% trong toàn bộ quy trình. Lò than hoá có hai dạng, một dạng gọi là lò quỹ đạo, vật liệu chủ yếu là gạch chịu lửa; giá thành của loại lò này tương đối cao. Loại thứ hai gọi là lò thủ công, được xây bằng gạch nung thông thường, giá thành thấp hơn. Thời gian đốt lò từ khi xếp thanh ép vào lò đến khi ra than  là 10 – 13 ngày. Cả hai loại lò dều dùng phương thức thanh ép tự cháy và không cần nhiên liệu.

Sản phẩm than sạch không khói sau khi ra lò được làm nguội trước khi tiến hành đóng gói và vận chuyển đến nhà kho bảo quản có độ ẩm và môi trường thích hợp, an toàn và dễ vận chuyển trong khâu phân phối và tiêu thụ sản phẩm

MÔ TẢ CHI TIẾT THAN MÙN CƯA

  • Sản xuất từ 100% mùn cưa của gỗ tự nhiên
  • Hàm lượng Cacbon (C) trên 80-95%
  • Hàm lượng lưu huỳnh (S): 0-0,02%
  • Độ ẩm: dưới 5%
  • Khi đốt cháy không sinh ra khí lưu huỳnh, cháy không khói -> không gây hại cho con người và ô nhiễm môi trường.
  • Thời gian cháy: 3 – 5 giờ => tiết kiệm chi phí, 
  • Qt >7500 Kcal/kg, độ tro <5%